Đọc phép so sánh với dự đoán trước đó
Un bilan après la rencontre
Nous avions prévu une heure pour la rencontre. Le débat a duré quatre-vingt-dix minutes : il a été plus long que je ne le pensais1. Pourtant, les échanges ont été moins tendus2 que nous ne le craignions. Plusieurs participants ont posé des questions précises, et chacun a pu répondre à son tour.
Le compte rendu est plus court que nous ne l’avions imaginé. Il reprend les trois propositions principales et les points de désaccord. Il reste toutefois une question à régler : qui rédigera la version finale ? Le groupe n’a pas encore choisi cette personne.
Dans l’ensemble, le résultat est meilleur que nous ne l’espérions3. Nous avons trouvé un accord sur deux propositions, alors que nous pensions n’en retenir qu’une. La troisième demande encore du travail. Nous prévoyons une seconde réunion pour en discuter. Elle devrait être plus courte que la première.
Đọc bản dịch tiếng Việt
Chúng tôi đã dự trù một giờ cho sự kiện. Cuộc tranh luận kéo dài chín mươi phút: lâu hơn tôi nghĩ. Tuy vậy, cuộc thảo luận ít căng thẳng hơn chúng tôi lo ngại. Một số người tham gia đặt câu hỏi cụ thể, và ai cũng có thể lần lượt trả lời.
Bản báo cáo ngắn hơn chúng tôi hình dung. Nó trình bày ba đề xuất chính và các điểm bất đồng. Tuy nhiên, vẫn còn một câu hỏi cần giải quyết: ai sẽ soạn bản cuối cùng? Nhóm vẫn chưa chọn người đó.
Nhìn chung, kết quả tốt hơn chúng tôi mong đợi. Chúng tôi nhất trí về hai đề xuất, trong khi trước đó nghĩ sẽ chỉ giữ một. Đề xuất thứ ba vẫn cần hoàn thiện. Chúng tôi dự định họp lần hai để thảo luận về nó. Cuộc họp đó có lẽ sẽ ngắn hơn lần đầu.
